Nhà thơ Nguyễn Nguyễn Đình Chiểu sinh ra ở đâu?

Tiểu sử cụ Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là 1 nhà thơ, nhà văn hóa cận đại của Việt Nam.

Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai. Sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822, tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).

Cha ông tên Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, (nay là xã Phong An, huyện Phong Điền, TT-Huế), là thư lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, huyện nên Giuộc, tỉnh Gia Định.

Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội khi bấy giờ, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã khiến cho cha ông bỏ trốn ra Huế rồi bị phương pháp chức. Năm 1833 cha ông trở vào Nam, đem ông ra gửi cho một người bạn ở Huế để tiếp tục việc học. Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ 12 đến 19 tuổi.

Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng vào năm 21 tuổi. Khi ấy, sở hữu một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.

Năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849. Nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất tại Sài Gòn (1849). Trên đường trở về chịu tang mẹ, vì thời tiết thất thường, vất vả và khóc thương rộng rãi buộc phải ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Trong thời gian nghỉ lại Quảng Nam chữa bệnh, tuy bệnh không hết, nhưng ông đã được vị danh y truyền dạy nghề thuốc.

Đui mù, mất mẹ, hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút… Ông đóng cửa chịu tang cho tới năm 1851, ông mới mở trường dạy học và khiến thuốc.

Cụ : Nguyễn Đình Chiểu

Năm 1854, 1 người học trò tên là Lê tăng Quýnh vì cảm phục và mến thương ông, bắt buộc đã xin gia đình gả cô em gái đồ vật năm của mình tên là Lê Thị Điền (1835 – 1886), người bắt buộc Giuộc (Long An), cho thầy.

nói từ đó, gần chục năm sau, bên cạnh đôi việc trên ông còn sáng tác truyện thơ Lục Vân Tiên và Dương Từ – Hà Mậu, để gửi gắm tình ý cùng hoài bão của mình.

Ngày 17 tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cộng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện buộc phải Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác Văn tế nghĩa sĩ phải Giuộc, được rộng rãi người đánh giá cao.

khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, ko chịu sống trong vùng bị chiếm đóng, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc, đồng thời vẫn giữ mối địa chỉ với các sĩ phu yêu nước như Phan Văn TrịNguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến; từ chối trước tất cả cám dỗ của đối phương[2].

Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác rộng rãi thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất.

Ngày 3 tháng 7 năm 1888, ông mất tại Ba Tri, Bến Tre. Người ta kể lại rằng ngày đưa đi an táng, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của các người mến mộ ông:

Điểm neoVăn và Người

Tượng Nguyễn Đình Chiểu trong đền thờ ở Ba Tri, Bến Tre

Mô tả về nhân bí quyết của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Văn Châu đã viết:

“Nhân phương pháp của Nguyễn Đình Chiểu là 1 minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì vậy mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống với văn hóa, là nhân bí quyết cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu. Trên cương vị của 1 nhà thơ, chiếc sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam.”

Dù đui mà giữ đạo nhà

Còn hơn mang mắt ông cha ko thờ.

Dù đui mà khỏi danh nhơ

Còn hơn sở hữu mắt ăn dơ tanh rình…

Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,

Lòng đạo xin tròn một tấm gương.

Chở bao nhiêu đạo thuyền ko khẳm,

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Phạm Thế Ngũ nhận xét:

“So sở hữu các trước tác của các nhà văn cộng thời, Nguyễn Đình Chiểu đã mang 1 thái độ tích cực hơn, vì dân vì nước hơn. Tuy không đứng vào hàng ngũ cầm khí giới, nhưng ông vô cùng mang cảm tình mang họ, chia sẻ mang họ loại hờn mất nước, lòng căm ghét quân địch và bọn hợp tác…”

Ghi nhận những thành tựu trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của ông, trên trang web của tỉnh Bến Tre có bài viết:

“Truyện Lục Vân Tiên dài 2.083 câu thơ mà rộng rãi nhà nghiên cứu cho là với mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung.”

“Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiên Chúa khi bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí hình dung nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê” qua cuộc hành trình dài đi mua chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.”

“Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định. Nhà thơ lánh về quê vợ ở bắt buộc Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca các người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận bắt buộc Giuộc…”

“Ông là người mở đầu cho mẫu văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt mang các biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Ấy là:Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận phải Giuộc (1861), Cáo thịThảo thử hịch’, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điếu Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ – Hà Mậu  Ngư tiều y thuật vấn đáp…

“Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở quá trình đầu là cảm hứng đạo lý và chi tiết này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch:”

nói ra thì nước mắt trào,

Tấm lòng điểm cộng biết bao giờ rồi…

“Những tác phẩm ở quá trình sau – thời kỳ đất nước bị xâm lăng – của ông là những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta (Phạm Văn Đồng)

Tóm lại, sáng tác của ông gồm rộng rãi thể dòng, thể tài, trong đó thành kỹ thuật thuật vượt trội nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cộng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể cái, làm chơ ngòi bút của ông có sức lôi kéo mạnh mẽ người đọc, nhất là đối sở hữu nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc 1 bí quyết rực rỡ văn học của quá trình trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Điểm neoTác phẩm chính

Mộ Nguyễn Đình Chiểu (trái), mộ vợ ông (phải), phía xa là mộ Sương Nguyệt Anh và đền thờ của ông

Thân thế và sự nghiệp (Nguồn wikipedia)

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại quê mẹ là làng Tân Thới [2], phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc phường Cầu KhoQuận mộtThành phố Hồ Chí Minh ngày nay).

Ông xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người làng Bồ Điền, xã Phong An [3], huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. To lên, ông cưới vợ ở đây và đã sở hữu hai con (một trai và 1 gái). Mùa hạtháng 5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành. Tới đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục khiến thư lại ở Văn hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, sinh ra bảy con (4 trai, 3 gái) và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.

Đi học[sửa | sửa mã nguồn]

Thuở nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi dạy. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một ông thầy đồ ở làng.

Năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt mất. Năm sau (1833), con nuôi Tả quân là Lê Văn Khôi, vì bất mãn đã làm cho cuộc nổi dậy chiếm thành Phiên An ở Gia Định, rồi chiếm cả Nam Kỳ. Trong cơn binh biến, cha của Nguyễn Đình Chiểu bỏ trốn ra Huế, bắt buộc bị cách hết chức tước. Song vì thương con, cha ông lén trở vào Nam, đem ông ra gửi cho 1 người bạn đang khiến Thái phó ở Huế để tiếp tục việc học. Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ 11 tuổi (1833) tới 18 tuổi (1840), thì trở về Gia Định.

Năm Quý Mão (1843), ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Lúc đấy, mang một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông [4].

Năm 1847, ông ra Huế học để chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849)[4]. Lần này, ông cùng đi có em trai là Nguyễn Đình Tựu (10 tuổi).

Mẹ mất, bị mù lòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày rằm tháng 11 năm Mậu Thân (31 tháng 12 năm 1848), mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định. Được tin, ông bỏ thi, dẫn em theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ.

Trên đường trở về, vì quá thương khóc mẹ, vì vất vả và thời tiết thất thường, bắt buộc tới Quảng Nam thì Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng. Trong thời gian nghỉ chữa bệnh ở nhà 1 thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y, tuy bệnh không hết, nhưng ông cũng đã học được nghề thuốc. Lâm cảnh đui mù, hôn thê bội ước, cửa nhà sa sút… Nguyễn Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851, thì mở trường dạy học và khiến thuốc ở Bình Vi (Gia Định). Truyện thơ Lục Vân Tiên của ông sở hữu lẽ được bắt đầu sáng tác vào thời gian này [5].

Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (18351886, người làng Thanh Ba, huyện buộc phải Giuộc, trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ. Bà Điền là em gái vật dụng năm của Lê tăng Quýnh, học trò ông, vì cảm phục và mến thương thầy, đã xin gia đình tác hợp. Truyện thơ Dương Từ-Hà Mậu của ông mang lẽ được bắt đầu sáng tác vào thời gian này [5].

Dạy học, khiến thuốc và sáng tác thơ văn yêu nước[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng. Vấp nên sự kháng cự quyết liệt của quân và dân Việt, họ vào Nam đánh phá thành Gia Định vào đầu năm 1859. Sau khi tòa thành này thất thủ (17 tháng 2 năm 1859), Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về sống ở Thanh Ba (nên Giuộc), tức quê vợ ông. Siêu đau đớn trước thảm cảnh mà quân Pháp đã gây bắt buộc cho đồng bào ông, và siêu thất vọng về sự hèn yếu, bất lực của triều đình, ông làm bài thơ “Chạy giặc”[6].

Đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu (16 tháng 12 năm 1861[7], các nghĩa sĩ mà trước đây vốn là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã quả cảm tập kích đồn Pháp ở phải Giuộc, tiêu diệt được 1 số quân của đối phương và viên tri huyện người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng mười lăm nghĩa sĩ bỏ mình[8]. Các tấm gương đó đã gây nên niềm xúc động to trong nhân dân. Theo đề nghị của Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài “Văn tế nghĩa sĩ buộc phải Giuộc“, để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận đánh này.

Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ mất về tay Pháp, theo phong trào “tỵ địa” [9], Nguyễn Đình Chiểu cộng gia đình rời Thanh Ba (Cần Giuộc) về Ba Tri (Bến Tre), vì không thể sống chung sở hữu họ. Chia tay với bạn bè thân quen, ông làm bài thơ “Từ biệt cố nhân”.

Về Ba Tri, ông tiếp tục dạy học, làm cho thuốc và đem ngòi bút yêu nước của mình ra phục vụ cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Nam Kỳ suốt trong hơn 20 năm, dù đã mù lòa [10].

Năm 1863, em trai út ông là Nguyễn Đình Huân theo Đốc binh Là chống Pháp, hy sinh ở bắt buộc Giuộc.

Tháng 8 năm 1864, thủ lĩnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gò Công là Trương Định bị thương rồi tuẫn tiết ở Ao Dinh; xúc động, Nguyễn Đình Chiểu làm cho bài văn tế và mười hai bài thơ liên hoàn để điếu ông.

Năm 1867, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản và Đốc học Vĩnh Long Nguyễn Thông tổ chức đưa di hài nhà giáo Võ Trường Toản từ làng Hòa Hưng (Gia Định) về táng ở Bảo Thạnh (Ba Tri), Nguyễn Đình Chiểu sở hữu tới dự lễ rước.

Ngày 4 tháng 8 năm đó (1867), Phan Thanh Giản tuẫn tiết vì không giữ được thành Vĩnh Long, Nguyễn Đình Chiểu sở hữu khiến cho hai bài thơ điếu ông. Với thể ông bắt đầu soạn quyển thơ Ngư tiều vấn đáp nho y diễn ca trong năm này.

Năm 1868, thủ lĩnh kháng Pháp ở Ba Tri là Phan Tòng (còn mang tên là Phan Ngọc Tòng) hy sinh, ông làm cho 10 bài thơ điếu.

Năm 1877, Nguyễn Đình Chiểu dời đến ở làng An Bình Đông (sau đổi là An Đức) phương pháp chợ Ba Tri khoảng hai cây số[11]

Năm 1883, Tỉnh trưởng Bến Tre là Michel Ponchon đã đến nhà để bắt buộc ông nhuận chính quyển thơ Lục Vân Tiên, đồng thời ngỏ ý trao trả lại ruộng vườn của ông mà họ đã chiếm đoạt [12]. Ông khẳng khái nói: “Đất vua không ai trả thì đất riêng của tôi với sá gì”, rồi khước từ đa số hứa hẹn giúp đỡ của chính quyền thực dân. Lại hỏi ý muốn riêng của ông, ông đáp “muốn tế vong hồn nghĩa sĩ Lục tỉnh”, và được viên Tỉnh trưởng chấp thuận. Sau đó, ông tổ chức lễ tế tại chợ Ba Tri, và đọc bài “Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh” [13].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1886, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất khi 51 tuổi. Buồn rầu vì vợ mất, vì cảnh nước mất nhà tan đã bấy lâu, vì bệnh tật ngày càng trầm trọng [14], hai năm sau, ngày 24 tháng 5năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888), Nguyễn Đình Chiểu cũng qua đời tại Ba Tri, thọ 66 tuổi. Ngày đưa tiễn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu về cõi vĩnh hằng, cánh đồng An Đức rợp trắng khăn tang của những người mến mộ ông [15].

Ông được an táng cạnh mộ vợ, nay thuộc ấp 3, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre [16].

Tác phẩm chính

  • Lục Vân Tiên (truyện thơ Nôm, bắt đầu soạn khoảng 1851), gồm 2082 câu thơ lục bát. Đây là 1 “bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, các đạo đức đáng quý đáng trọng ở đời” đã làm cho nên tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu [17], và là một tác phẩm lớn của văn học Việt Nam, được nhân dân, đặc trưng là nhân dân Nam Bộ yêu chuộng [15]. Sau thời gian đa dạng theo lối truyền miệng, truyện Lục Vân Tiên đã được Duy Minh Thị (tên thật là Trần Quang Quang ở Chợ Lớn) khắc in lần đầu ở Trung Quốc trước năm 1864, và đã được những nhà văn như Aubaret, Abel de Michels, Bajot…dịch ra tiếng nước ko kể [18]
  • Dương Từ – Hà Mậu (truyện thơ Nôm, bắt đầu soạn khoảng 1854). Căn cứ bản Tân Việt (Sài Gòn1964) do Phan Văn Hùm sao lục và hiệu đính, thì tập thơ gồm 3.456 câu, trong đấy đa số là thơ lục bát, sở hữu xen thơ luật Đường (33 bài) và những thể khác…[19]. Tác fake mượn câu chuyện này để nhắc lên thái độ của ông đối với đạo Phật và Công giáo Rôma mà ông ko tán thành [20].
  • Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca (Ngư tiều y thuật vấn đáp, 1867?), gồm 3.642 câu, trong đấy phần lớn là thơ lục bát, với xen 21 bài thơ và một số bài thơ ca, phú…trích từ các sách thuốc Trung Quốc [21]. Đây là một quyển sách dạy nghề làm cho thuốc chữa bệnh, viết dưới hình thức truyện thơ Nôm. Song giá trị chủ yếu ở việc tác giả đã lồng tư tưởng yêu nước vào nội dung y thuật [22].

ngoại trừ ra, ông còn để lại khoảng 37 bài thơ và văn tế, trong số đấy có rộng rãi bài nổi danh, như:

  • Chạy giặc (1859)
  • Từ biệt cố nhân (1859)
  • Tế nên Giuộc sĩ dân trận vong văn (tức Văn tế nghĩa sĩ buộc phải Giuộc, 1861)
  • Mười hai bài thơ và bài văn tế Tướng quân Trương Định (1864)
  • Thơ điếu Đông các Đại học sĩ Phan Thanh Giản (2 bài, 1867)
  • Mười bài thơ điếu Ba Tri Đốc binh Phan Tòng (1868)
  • Lục tỉnh sĩ dân trận vong văn (Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, chưa biết đích xác thời điểm sáng tác)[23].
  • Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây (chưa xác định thời điểm sáng tác)
  • Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột, chưa xác định thời điểm sáng tác)
  • Ngóng gió đông (chưa xác định thời điểm sáng tác)
  • Thà đui (chưa xác định thời điểm sáng tác), v.v…

Sự nghiệp văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Đình Chiểu là 1 nhà nho tiết tháo, sống theo đạo nghĩa, tuy với tật mù tối, và gặp lúc biến loạn mà vẫn giữ được phẩm bí quyết thanh cao. Ông ko chỉ là người con với hiếu, người thầy chiếc mực, mà còn là 1 nhà thơ yêu nước, đã để lại phổ biến tác phẩm có giá trị.

Ông là nhà thơ mang quan niệm văn chương nhất quán. Ông chủ trương tiêu dùng văn chương biểu hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa. Đề cập khác hơn, ông khiến thơ là để “chở đạo, sửa đời và dạy người” [24]. Do đó, mỗi vần thơ của ông đều ngụ ý khen chê công bằng, rạch ròi, và đều bộc lộ 1 tấm lòng thương dân, yêu nước của ông. Sự nghiệp văn chương của ông, sở hữu thể chia thành hai thời kỳ sáng tác:

công đoạn đầu (những năm 50 của thế kỷ 19): Trong giai đoạn này, ông viết “Lục Vân Tiên” và “Dương Từ-Hà Mậu”. Với thể xem đây là thời kỳ khẳng định tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước yêu dân của ông.

giai đoạn sau bắt đầu từ ngày quân Pháp đến chiếm lấy Gia Định (1859) cho đến khi ông qua đời (1888): Ngòi bút của ông ở quá trình này gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân mất nước. Trong phổ biến tác phẩm như “Chạy Giặc”, “Văn tế nghĩa sĩ nên Giuộc”, “Lục tỉnh sĩ dân trận vong”, v.v,…ông đã lên án mạnh mẽ quân Pháp xâm lược, phê phán triều đình nhu nhược, đồng thời ca ngợi tinh thần nghĩa khí và các tấm gương chiến đấu anh dũng của nhân dân. Đây là công đoạn vững mạnh cao và rực rỡ của sự nghiệp văn chương Nguyễn Đình Chiểu [25]

Và dù ở giai đoạn nào, trong những tác phẩm của ông nổi bật lên ba đặc điểm về nội dung và hình thức, đó là:

-Ông thường tiêu dùng chữ Nôm, và bằng ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu sức gợi cảm, làm cho tác phẩm của ông mang sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối sở hữu nhân dân miền Nam.

-Ông là nhà thơ đầu tiên xây dựng thành công hình ảnh những người nông dân trong văn học Việt, đắp tô tượng đài vĩnh cửu về người anh hùng Nam Bộ tiên phong trong công cuộc chống thực dân Pháp xâm lược.

-Ông đề cao tư tưởng Nho gia, xem ra mang vẻ bảo thủ. Song điều đáng lưu ý là các tư tưởng đấy sở hữu nội dung đạo nghĩa nhân dân, gắn chặt với ý thức trách nhiệm đối sở hữu vận mệnh của đất nước, do vậy mang 1 ý nghĩa xã hội lớn lớn, khởi đầu cho 1 thời đại văn chương sử thi mới sau này [26].

Tóm lại, so có những trước tác của các nhà văn cộng thời, Nguyễn Đình Chiểu đã mang 1 thái độ tích cực hơn, vì dân vì nước hơn. Tuy ko đứng vào hàng ngũ cầm khí giới, nhưng ông siêu mang cảm tình có họ, chia sẻ mang họ dòng hờn mất nước, lòng căm ghét quân địch và bọn hợp tác…[27].

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ Nguyễn Đình Chiểu (trái), mộ vợ ông (phải), phía xa là mộ Sương Nguyệt Anh và đền thờ của ông

Thực dân Pháp cho Tôn Thọ Tường, là bạn của Đồ Chiểu đến dụ dỗ ông. Đến mấy lần, nhưng lần nào đều bị Đồ Chiểu sắm cớ lánh mặt, Sau Tường gửi tặng hủ mắm cá lóc, mà Tường nhắc rõ trong thư là chính tay của vợ mình khiến, để biếu bạn xưa. Sau khi ăn sắp hết, Đồ Chiểu mới phát hiện ở dưới đáy hũ có mấy nén vàng, ông rất tức giận, viết thư trách Tôn Thọ Tường và sai người trả lại vàng.

Michel Ponchon, tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre cũng đã mấy lần thân hành tới nhà Đồ Chiểu. Mang lần lấy cớ nhờ nhuận sắc bản Lục Vân Tiên, nhưng ông fake vờ điếc đặc. Có lần viên quan này thông báo việc trả lại ruộng đất ở Tân Thới (Gia Định) cho Đồ Chiểu, nhưng nhận được câu trả lời: “Đất vua còn cần bỏ, thì đất tôi sá gì!”. Lần khác, M. Ponchon đặt ra vấn đề cấp dưỡng, Đồ Chiểu nói: “Tôi đây đang sống toàn bộ trong sự tôn kính của những môn đệ và sự quý mến của đồng bào. Điều đó đã làm tôi thỏa mãn lắm rồi”…Duy nhất có 1 lần, M. Ponchon hỏi Đồ Chiểu về một ước nguyện. Đồ Chiểu đề cập chỉ mong ước chính phủ Pháp cho ông tổ chức 1 buổi lễ tế vong hồn các người dân đã chết trận, và đã được viên quan này đồng ý. Hôm đó, tại chợ Đập (nay là chợ Ba Tri), nghe Đồ Chiểu đọc bài văn tế thảm thiết, số đông đa số người đến dự đều không cầm được nước mắt…[28].

Thông tin liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con của Nguyễn Đình Chiểu sở hữu hầu hết là ba trai ba gái. Trong số đấy sở hữu nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (con gái trang bị năm)[29] và Nguyễn Đình Chiêm (con trai trang bị sáu) đều là người sở hữu tiếng trong giới văn chương.
  • Toàn thể khu đền thờ và mộ Nguyễn Đình Chiểu tại huyện Ba Tri (Bến Tre) đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận di tích Lịch sử Văn hóa ngày 16 tháng 3 năm 1993.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trong thời kỳ chiến tranh Việt NamHội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam đã lập ra Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu công bố năm 1965 dành tặng cho những tác fake, tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở miền Nam.
  • rộng rãi tên đường tại các thành phố (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt v.v.) và tên trường học (nhất là những trường dành cho trẻ em khuyết tật) ở Việt Nam mang tên ông.

Tên đường phố[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1945, chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Mặt trận Việt Minh đã cho đổi tên đường có tên người Pháp trước đây thành đường phố với tên danh nhân người Việt Nam, trong đấy mang phố Nguyễn Đình Chiểu ở thành phố Hà Nội (nay là phố Phủ Doãn) và ở thành phố Hải Phòng (nay là phố Tôn Thất Thuyết). Tuy nhiên, sau khi thực dân Pháp chiếm lại được các thành phố này vào cuối năm 1946 thì tên phố Nguyễn Đình Chiểu cũng bị mất đi và trở lại bằng những tên đường có tên người Pháp như cũ.

Sau đó, chính quyền Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu vốn trực thuộc khối Liên hiệp Pháp cũng cho đặt tên đường phố với tên Nguyễn Đình Chiểu tại những thành phố này trên cở sở 1 lần nữa xóa bỏ tên đường với tên người Pháp cũ. Cụ thể, từ đầu năm 1951 tại thành phố Hà Nội lại sở hữu phố Nguyễn Đình Chiểu tại khu vực làng Ngũ Xã cũ nằm ven bờ hồ Trúc Bạch; tới năm 1954 đến lượt thành phố Hải Phòng cũng cho đổi tên ngõ Đồng Lùn cũ thành ngõ Nguyễn Đình Chiểu. Tuy nhiên, sau ấy ở Hải Phòng ngõ này đã đổi lại tên cũ thành ngõ Đồng Lùn cho đến nay; và tại Hà Nội đến năm 1964 trên cơ sở cho rằng con phố Nguyễn Đình Chiểu ngắn và nhỏ như vậy hoàn toàn không ưng ý sở hữu công lao lớn lớn của ông đối có đất nước, chính quyền Hà Nội lại cho đổi tên phố Nguyễn Đình Chiểu cũ thành phố Nam Tràng và giữ nguyên cho đến ngày nay; còn phố số 296 vốn chưa có tên nằm ven hồ Bảy mẫu thì cho đặt tên là phố Nguyễn Đình Chiểu.

Từ năm 1950, tại vùng Hòa Hưng, Sài Gòn đã sở hữu một con đường nhỏ mang tên đường Nguyễn Đình Chiểu. Đến năm 1955, chính quyền Sài Gòn đổi tên thành đường Hòa Hưng cho đến ngày nay.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975 (lúc ấy bao gồm Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định) có đến hai con đường có tên Nguyễn Đình Chiểu:

  • Tại Đô thành Sài Gòn cũ, từ ngày 22 tháng 3 năm 1955 đường Nguyễn Đình Chiểu được đặt tên cho 1 con đường tương đối nhỏ ở vùng Tân Định, đi ngang qua Viện Pasteur, nối từ đường Hai Bà Trưng tới đường Trương Minh Giảng (nay là đường Trần Quốc Thảo). Ngày 14 tháng 8 năm 1975, đường Nguyễn Đình Chiểu cũ bị thay đổi tên thành đường Trần Quốc Toản, còn đường Phan Đình Phùng cũ thì đổi tên thành đường Nguyễn Đình Chiểu theo Quyết định của Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định.
  • Tại xã Phú Nhuận thuộc quận Tân Bình, tỉnh Gia Định cũ, từ sau năm 1955 cũng có một con đường ngắn và nhỏ mang tên là đường Nguyễn Đình Chiểu, giữ nguyên tên cho tới ngày nay.
Người đầu tiên đi du học Nhật Bản là ai

Vì sao nên học thạc sĩ quản trị kinh doanh tại Nhật Bản

Ai cũng biết rằng Nhật Bản là một quốc gia không chỉ mang nền kinh tế lớn mạnh nổi bật mà ngay cả hệ thống giáo dục cũng đứng vào đội ngũ các quốc gia hàng đầu thế giới. Với lẽ chính do vậy mà du học Nhật Bản cả ở hệ đại học hay sau đại học đều là mong muốn của đa dạng học sinh, SV. Hơn nữa, mang 1 quốc gia sở hữu nền kinh tế phát triển như Nhật Bản thì việc học thạc sĩ quản trị buôn bán là một lựa tậu sáng suốt đấy.

du hoc thac si nganh quan tri kinh doanh o nhat ban

Những trường đại học Nhật Bản nào có khóa học thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh?

Đại học McGill

nổi danh có chất lượng giảng dạy bậc nhất tại đất nước mặt trời mọc, bởi vậy chương trình cho hệ học thạc sĩ tại ngôi trường này sẽ là lựa chọn tương đối tuyệt vời cho những CN kinh tế muốn học lên nữa. Khóa học thạc sĩ nơi đây sẽ kéo dài trong khoảng 2 năm với chương trình tiêu chuẩn gồm 60 tín chỉ.

Trường Quản trị Quốc tế – đại học Aoyama Gakuin

Tại trường đại học Gakuin có hai hóa học đào tạo thạc sĩ ngành quản trị buôn bán, 1 khóa kéo dài trong 2 năm và một khóa đào tạo chuyên nghiệp ngắn hạn trong vòng một năm. Thông thường, trong một khóa học này trường sẽ tuyển dụng khoảng 100 SV để tham gia đào tạo.

Chương trình học thạc sĩ tại các trường đại học như thế nào?

tu van du hoc nganh quan tri kinh doanh tai Nhat Ban

Tương tự như ở VN, Nhật Bản cũng có 3 kiểu trường đại học là trường quốc gia, trường tư nhân và trường công lập. Các trường đại học Quốc gia thường là những trường với chất lượng giảng dạy đứng đầu cả nước sở hữu đội ngũ giảng viên sở hữu chuyên môn và thâm niên trong nghề. Tuy nhiên, học phí của những trường này thường tương đối cao hơn so có những trường công lập và dân lập khác. Chất lượng giảng dạy tại các trường công lập thường ở mức tương đối, với thể đề cập hầu như là phải chăng hơn những trường tư. Học phí ở mức trung bình mà chất lượng giảng dạy khá thấp sẽ là lựa tìm phải chăng nhất cho khách hàng mang điều kiện kinh tế eo hẹp tham gia khóa học. Trường đại học tư nhân tại Nhật Bản hơi phổ biến buộc phải ko thể đảm bảo hết mọi những chương trình đào tạo ở đa số trường. Tuy nhiên, ko phải trường tư nào chương tình giảng dạy cũng kém, vẫn sở hữu một số trường đại học tư nhân cạnh trạnh với các trường đại học Quốc gia và công lập bắt buộc cực kỳ chú trọng tới chất lượng đào tạo và đầu ra của sinh viên.

Trên đây là 2 khóa học thạc sĩ tiêu biểu ngành quản trị buôn bán tại trường đại học nức tiếng. Trường hợp bạn còn điều gì bắt buộc giúp đỡ hãy cửa hàng ngay với Du học Minh Nguyệt để được hỗ trợ bạn thêm nhé.

có các trình bày trên, Du học Minh Nguyệt hy vọng qua có những thông tin mà bài viết này cung ứng đã giúp các bạn nắm rõ cũng như chuẩn bị hành trang đi du học Nhật Bản chọn được nguyện vọng mang phải đi du học Nhật Bản học thạc sĩ quản trị marketing không? Để biết rõ hơn chính xác hơn chương trình du học Nhật Bản cũng như bí quyết thức đăng ký tư vấn du học. Hãy shop ngay du học Minh Nguyệt dể được tư vấn rõ hơn kỹ hơn và mang thông tin chính xác nhất

Để biết thêm thông tin cụ thể hơn, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi!!!

Công ty TNHH TƯ VẤN GIÁO DỤC MINH NGUYỆT

Địa chỉ: 656/48 – 656/50 CMT8, Phường 11, Quận 3, TP. HCM
Điện thoại: 028 3990 7990 – 0966 544 082
Hotline: 1900 5656 34
Website: https://duhocminhnguyet.vn
Email: [email protected]

**Xem thêm: trung tâm du học Nhật Bản uy tín nhất Sài Gòn

Chi phí đi du học Nhật Bản bao nhiêu tiền

Bật mí Trung tâm du học Nhật Bản uy tín nhất tại Sài Gòn

Trung tâm du học Nhật Bản uy tín tại Sài Gòn

Nhật Bản là đất nước sở hữu một hệ thống giáo dục tiên tiến và vững mạnh hàng đầu thế giới, ko các thế mà giá tiền của các chương trình học bên Nhật thường phải chăng hơn so sở hữu nhiều quốc gia khác. Bởi lẽ đấy mà Nhật Bản là đất nước được rộng rãi học sinh, SV lựa sắm có số lượng du học sinh Việt chỉ xếp thiết bị hai sau Trung Quốc. Do đó, ngày nay với đông đảo trung tâm du học mọc lên như nấm sau mưa, vì thế bạn cần buộc phải cẩn trọng trong việc lựa mua trung tâm du học Nhật Bản uy tín nhất Sài Gòn. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu đến bạn về trung tâm du học Nhật Bản uy tín tại Sài Gòn.

Nguồn bài viết xem chi tiết tại: http://bit.ly/cong-ty-du-hoc-uy-tin-nhat-sai-gon

Du học Nhật Bản bao nhiêu tiền 2018
Ảnh minh họa: Du học Nhật Bản bao nhiêu tiền 2018

Tại sao bắt buộc chọn và tìm hiểu hiểu kỹ về những trung tâm du học Nhật Bản?

Việc lựa tìm trung tâm uy tín có thể coi như một bệ phóng quyết định con đường du học của bạn với thuận lợi hay không. Ở trung tâm ko kể việc dạy tiếng, họ sẽ dạy bạn cá tính và cả lối sống bên Nhật. 1 trung tâm du học uy tín ko chỉ là phạm vi nhỏ hẹp trong nước mà còn có những trường tuyển sinh bên Nhật.

một trung tâm uy tín là trung tâm sẽ định rõ cho bạn từng bước trong giai đoạn chuẩn bị đi du học và rõ ràng trong từng điều khoản cũng như mức giá du học tại trung tâm mang tỉ lệ đỗ visa cực cao. Mọi giá tiền chuẩn bị cho giai đoạn du học của bạn đểu rõ ràng và minh bạch. Ngoài ra, họ sẽ có lộ trình cho việc học tiếng để đào tạo du học sinh 1 phương pháp hiệu quả nhất. Và từ đấy, sẽ hình thành cho bạn 1 thói quen và phong cách sinh hoạt giống như người Nhật và lúc sang ấy bạn sẽ không phải bỡ ngỡ.

Trung tâm uy tín ko chỉ tạo dựng được lòng tin với học viên của mình mà còn đối với những trường nhật ngữ tuyển sinh tại Nhật vì họ vô cùng chú trọng vào chất lượng của du học sinh. Vì thế, các trung tâm thường là các trung gian giúp nhà tuyển sinh và người sở hữu nguyện vọng du học kết nối có nhau. Ví như các nhà trường tuyển sinh đã với sự tin tưởng và hợp tác lâu dài có trung tâm đó, vững chắc họ sẽ có niềm tin về nhân bí quyết và kiến thức của du học sinh tại trung tâm.

Trung tâm du học Nhật Bản uy tín số 1 tại Sài Gòn

Trung tâm du học giá rẻ số một tại Sài Gòn nên đề cập đến đó là Du học Minh Nguyệt. Mang kinh nghiệm trong nghề cộng với nhãn hiệu uy tín đã tạo dựng phổ biến năm, Du học Minh Nguyệt khẳng định là lựa tậu số 1 với đa dạng phụ huynh, HS và sinh viên với ước mơ du học Nhật Bản. Không chỉ là người đồng hành cùng các du học sinh trên con đường du học, Du học Minh Nguyệt còn là đối tác đáng tin cậy của rộng rãi trường đại học tại Nhật.

có đội ngũ nhân viên tư vấn tận tình, Du học Minh Nguyệt đảm bảo rằng bạn sẽ được giải đáp mọi thắc mắc 1 phương pháp nhanh chóng cũng như tư vấn về việc lựa sắm trường học đam mê có học viên. Hơn nữa, trung tâm sẽ sản xuất cho bạn đa dạng thông tin, hồ sơ và tài liệu để bạn có các hiểu biết rõ ràng về việc lựa sắm trung tâm để tư vấn đi du học Nhật Bản.

không tính ra, Du học Minh Nguyệt cam kết rằng giá tiền du học luôn rõ ràng và minh bạch, ko phát sinh thêm bất kỳ khoản phí nào, hỗ trợ SV trong suốt giai đoạn du học và sinh hoạt bên Nhật, hỗ trợ trong việc tậu nhà ở, làm giấy tờ tùy thân cũng như các công việc làm cho thêm,…

Du học Nhật Bản hướng đi mới 2018
Ảnh minh họa: Du học Nhật Bản hướng đi mới 2018

Vì ước muốn và tương lai du học của bản thân, hãy lựa chọn cho mình một trung tâm du học uy tín để nguyện vọng của bạn phát triển thành hoàn mỹ nhất.

Trên đây là những thông tin về trung tâm du học Nhật Bản uy tín tphcm . Hãy cửa hàng có chúng tôi để được tư vấn thêm.

Hy vọng mang các thông tin mà bài viết này chế tạo đã giúp bạn nắm rõ về trung tâm du học Nhật Bản uy tín tại Sài Gòn!

Để biết thêm thông tin chi tiết, xin vui lòng tham khảo với đội tư vấn của công ty chúng tôi để biết thêm thông tin bổ ích!!!

Công ty TNHH TƯ VẤN GIÁO DỤC MINH NGUYỆT

Địa chỉ: 656/48 – 656/50 CMT8, Phường 11, Quận 3, TP. HCM
Điện thoại: 028 3990 7990 – 0966 544 082
Hotline: 1900 5656 34
Website: https://duhocminhnguyet.vn
Email: [email protected]